Tin tức‎ > ‎

Marketing, bán hàng

Marketing Trên Nỗi Sợ Hãi Của Khách Hàng

đăng 20:58, 22 thg 4, 2015 bởi Linh Pham


Marketing Trên Nỗi Sợ Hãi Của Khách Hàng

Quảng cáo dựa trên nỗi sợ hãi tác động lên sự lo lắng thông thường của chúng ta, và tác động nhiều đến cảm giác bất an của con người, nó đang trở thành một trong những công cụ quảng cáo hữu hiệu nhất – và đáng nhớ nhất đang tồn tại.

Hãy cùng suy nghĩ về điều này: là con người, chúng ta tận hưỡng suy nghĩ mình là một giống loài đặc biệt , ăn thức ăn nấu chín, mặc quần áo, đi làm, sử dụng máy điều hòa nhiệt độ, tải nhạc về máy tính, đến phòng tập thể dục, xử lý các khung hoảng – trể hẹn, con bạn vừa bị ngã xe đạp, bạn của mình lăn ra ốm, ba mẹ qua đời .v.v.. Cuối cùng thì đó là mục đích sống của chúng ta. Đây là điều thực tế hơn hết trong thế giới đầy áp lực của chúng ta và trong thế giới rộng lớn này, khi tin tức về de dọa khủng bố, các cuộc đảo chính, cháy rừng, động đất, lũ lụt, bạo lực và các loại thảm họa được xếp trong danh mục khác ồ ạt tấn công chúng ta mỗi ngày, kể từ khi xem thông tin buổi sáng cho đến lúc lên giường ngủ. 


Càng sống chung với nhiêu áp lực, chúng ta càng sợ hãi, bất an và không chắc chắn. Chúng ta không đi xa vào thứ sáu ngày 13, chúng ta làm đổ bể cái gì đó chúng ta nghĩ ngay minh bắt đầu bị xui xẻo. Tất nhiên, nếu được hỏi không một ai trong chúng ta sẽ trả lời như vậy, hầu hết đều đồng thanh nói không ( đừng có ngớ ngẫn như thế, đó chỉ là mê tín thôi), không phải chúng ta đang cố ý nói dối – chỉ là tiềm thức giỏi phiên dịch hành vi của chúng ta hơn rất nhiều. Trong khi hầu hết chúng ta vẫn tiếp tục bị ảnh hưỡng bởi những thứ như vậy, từng ngày trong cuộc sống của mỗi người trong chúng ta.

Hãy lấy một ví dụ : Các ba mẹ ngày nay ngày càng nhạy cảm và cảnh giác với mọi thứ liên quan đến “bệnh tật” , “an toàn”, “sức khỏe”. Không người phụ nữ nào muốn ăn thức ăn có vi khuẫn, hay đột nhiên bị viêm họng, cũng như không muốn bé Kem hay Lyly nhà mình bị lây bất cứ bệnh gì. Vậy là phòng thí nghiệm của một công ty nọ đã đề xuất phát triển một loại thuốc kháng khuẫn đựng trong một lọ nhỏ, rất thuận tiên tên là “Pure-Al” – mà người phụ nữ có thể bỏ trong ví cầm tay và dùng ngay bằng việc Xịt trực tiếp lên tay sau một ngày làm việc mệt mỏi, khi ra khỏi căn phòng bẩn thỉu hay khi đi khỏi những khu đông đúc. Nhưng liệu Pure – Al có làm giảm nỗi sợ hãi của chúng ta đối với “bệnh tật” và thực sự “an toàn”? Làm sao các nhà Marketing của loại thuốc này biết được gì thực sự quan trọng với chúng ta? Chắc chắn, nhu cầu cơ bản của con người là cảm thấy được an toàn và được bảo vệ.

Điều đó cũng đúng với từng rung cảm mà con ngươi trải qua mỗi ngày, bất kể là tình yêu, sự thông cảm, hờn giận, ghen tuông, tức giận, sợ hãi hay cảm xúc khác. Hơn tất cả mọi thứ, tại một khu vực nhỏ nằm trong não bộ của chúng ta được gọi là “ Hạch hạnh nhân” ngoài có tác dụng điều khiển, bên cạnh đó là những chức năng khác như sự sợ hải, lo lắng và khiếp đảm.

Các công ty bằng việc gợi ra trong lòng người tiêu dùng nỗi khiếp sợ, và điều đó đã có tác dụng. Đó là những gì mà bộ não của con người nhớ đến.

Nói cách khác, Những quảng cáo này đang dọa khách hàng, khiến họ cảm thấy thất vọng, lo sợ, căng thẳng, chông chênh. Không thể phủ nhận rằng nỗi sợ hãi đã có tác động to lớn lên não bộ của chúng ta, nếu suy nghĩ đúng về điều này vốn chỉ khiến người tiêu dùng tránh xa sản phẩm.

Nhưng trên thực tế, khi các quảng cáo dựa trên nỗi sợ hãi tác động lên sự lo lắng thông thường của chúng ta, và tác động nhiều đến cảm giác bất an của con người, thì nó lại trở thành một trong những công cụ quảng cáo hữu hiệu nhất – và đáng nhớ nhất đang tồn tại. Dự đoán, chúng ta sẽ ngày càng được tiếp xúc với nhiều công ty, nhiều chiến dịch Marketing quảng cáo dựa trên sự sợ hãi Hãy nhớ rằng, càng lo lắng cuộc sống hiện thực bao nhiêu, chúng ta càng sợ hãi, thì chúng ta càng tìm kiếm sự an toàn trong một tổ chức, thì chúng ta càng dễ bị “lừa gạt”, họ sẽ khiến chúng ta nghĩ rằng vẫn chưa đủ đâu, rằng chúng ta không chịu mua sản phẩm của họ chúng ta sẽ bị bỏ rơi theo cách nào đó. (Và có cần nhắc nhở thêm rằng bạn đang “ra đi” và bạn nên bắt đầu để mắt tới điều này hay không?)

Như George W.Bush khi được hỏi người Mỹ có thể làm gì để cống hiến cho đất nước sau nỗi sợ hải ngày 11/9, ông đã trả lời bằng một từ duy nhất “Mua Sắm”.

Đó là một vài cơ chế mà nỗi sợ hãi hoạt động, và rất nhiều công ty đã nhận ra điều này. Và chúng ta còn chưa biết nó có được hiêu quả đến như thế nào?
OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Content Marketing Chỉ Là Bình Mới Rượu Cũ

đăng 20:38, 22 thg 4, 2015 bởi Linh Pham

Content Marketing Chỉ Là Bình Mới Rượu Cũ 
Không nên làm nô lệ cho một khái niệm. Hiểu về một khái niệm quan trọng hơn. Content Marketing (xin được dùng từ gốc tiếng Anh trong bài viết này) là nói những điều đơn giản một cách phức tạp hay ngược lại, nói những điều phức tạp một cách đơn giản? Có vẻ như người ta thích đi theo hướng thứ nhất nhiều hơn. Có nhiều lý do. 
Khi chưa hiểu rõ một vấn đề nào đấy, chúng ta thích nói dài, thích giải thích dài dòng. Vì sợ người khác không hiểu. Và có thể nói dài để cảm thấy an tâm. “Giết nhầm hơn bỏ sót” (?!). 

Có thể hiểu rõ một vấn đề rồi nhưng để làm cho nó quan trọng, ta có xu hướng “hàn lâm hoá” nó. Một trong những cách thường dùng đó là cho nó một cái tên. Cái tên mới nghe lạ một chút, bí ẩn một chút. Tất nhiên mọi quan điểm hay phương pháp luận mới đều cần có một cái tên mới để gọi. Có tên mới được định nghĩa rõ ràng, khúc chiết. Có tên mới không được như thế. Và phức tạp hoá một vấn đề đơn giản cũng là một lựa chọn để làm mọi thứ trở nên… phức tạp. Có người lao vào mổ xẻ. Có người không. 
Theo quan niệm truyền thống của khá nhiều tài liệu học thuật, marketing bao gồm tất tần tật từ branding (làm thương hiệu), Pr (quan hệ công chúng), communication (truyền thông) hay advertising (quảng cáo). Content marketing sẽ được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ ngưởi định nghĩa đang làm công việc gì. 

Nội dung của branding là phải tìm ra một điểm bán hàng độc nhất (Unique Selling Proposition) để thương hiệu nhờ đó quyến rũ được khách hàng khó tính và đánh bay được đối thủ ghê gớm. 
Nội dung hay của branding là “mua” được nguyên liệu ngon để phục vụ cho các công cụ quảng cáo hay PR sau này “nấu” món ăn ngon. Nội dung hay làm khách nhớ đến, nhắc đến và dẫn đến tiêu dùng nó. Như một thói quen hàng ngày. 
Kiểu thông điệp như “sữa sạch” của TH True milk, “lọc nước hàng đầu Việt Nam” của Kangaroo hay “nóng trong người” của trà Dr. Thanh là những “content” nhạt toẹt. Chẳng ai thích. Nhưng khổ nỗi ai cung nhớ và nhiều người tiêu dùng một cách vô thức những thương hiệu này. Nói một cách khác nội dung nhạt toẹt nhưng hiệu quả. Do vậy có thể coi đó là những nội dung hay. 
Người làm PR 

Nội dung của PR là xây dựng được uy tín cho thương hiệu bằng các công cụ chuyên biệt. Nội dung của PR được đo lường bằng kết quả thương hiệu có gây được cảm tình với công chúng hay không. 
Đối với câu chuyện con ruồi của Tân Hiệp Phát, “Content Marketing” dưới lăng kính PR quá ư kém cỏi. Đến một chi tiết có thật là dây chuyền sản xuất khá hiện đại, đội ngũ truyền thông của họ cũng làm “rỉ rét” vì sự vụng về khi đưa tin. Nếu họ mở cửa nhà máy kịp thời hơn, có sự giám sát của bên thứ ba, và tránh các nội dung thông tin quảng bá, gây nhiễu như treo giải “Thử là tin” thì có lẽ họ đã ít nhiều gỡ gạc được chút cảm tình của công chúng. 
Trong cuốn “Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi” của tác giả Al Ries, vai trò của PR được đề cao về chức năng xây dựng thương hiệu. Với những gì Tân Hiệp Phát đã làm, xin lỗi Al Ries, quan niệm của ông đã “đi về nơi xa lắm”. 
Người làm quảng cáo 
Giống PR, nhiệm vụ của quảng cáo là sử dụng nguyên liệu đúng mà brand đã tìm ra để chế biến món ăn hấp dẫn. Content marketing, dưới lăng kính người làm quảng cáo, là nói đúng và nói hay về thương hiệu. Nói đúng là nói về USP của thương hiệu. Nói hay là USP này được thể hiện bằng hình ảnh, ngôn ngữ hoặc âm thanh thật hấp dẫn thật sáng tạo. 
Thậm chí khi một thương hiệu chẳng có một USP nổi trội nào nhưng content hay của quảng cáo là vẫn làm cho thương hiệu được biết đến và yêu thích. Ví dụ quảng cáo thương hiệu dầu ăn Neptune chẳng hạn. Chẳng nói gì về USP sất. Nhưng “Về nhà đón Tết gia đình trên hết” là một quảng cáo có nội dung hay. Vì người ta thích nó. Bàn luận về nó. Đơn thuần là yếu tố cảm xúc ngự trị. Neptune đã có một Content Marketing hay. 
Cái gì cũng cần một tên gọi, cần một khái niệm học thuật. Nhưng tên gọi chỉ là tên gọi mà thôi. Content Marketing là một trong nhiều cái tên như vậy. Vấn đề cốt lõi là ta có hiểu bản chất của tên gọi hay khái niệm nào đấy không. Chẳng cần lãng phí thời gian để tranh luận về ý nghĩa của câu chữ. Có người giải thích vanh vách một khái niệm về mặt ngôn ngữ nhưng có thể họ chẳng hiểu hết bản chất của khái niệm đó là về cái gì. Ngôn ngữ dùng để gọi tên là do ai đó đẻ nó ra. Chúng ta cũng có thể đẻ ra nhiều tên gọi khác để nói về cùng một vấn đề. Không nên làm nô lệ cho một khái niệm. Hiểu về một khái niệm quan trọng hơn. 
Trước khi có khái niệm Content Marketing ra đời, thế giới marketing đã như vậy rồi. Người làm branding làm công việc xây dựng hình ảnh thương hiệu. Người làm PR xây dựng uy tín thương hiệu. Người làm quảng cáo chuyển tải thông điệp một cách thú vị nhất có thể. Sau khi khái niệm Content Marketing ra đời, thế giới marketing vẫn chẳng có gì thay đổi. Người làm branding, người làm PR hay người làm quảng cáo vẫn làm công việc trước đây họ vẫn làm. Cho dù họ có biết đến khái niệm marketing hay không. 
Ai hỏi tôi Content Marketing là gì là tôi chịu. Tôi chỉ biết mỗi việc giúp các thương hiệu lớn bé tôi có may mắn nhặt được trên đường trao vào tay những khách hàng đang tìm kiếm họ. Nếu thấy thương hiệu và khách hàng duyên phận gặp nhau tay trong tay thì có lẽ tôi đã làm tốt content marketing rồi. Thôi cứ đơn giản cái phức tạp thế cho nó nhẹ nhàng các bạn ạ. 

Nguồn: Nguyễn Đức Sơn (Theo Tri Thức Trẻ) 


11 Xu Hướng Marketing Đáng Mong Đợi Nhất 2015

đăng 20:29, 22 thg 4, 2015 bởi Linh Pham

11 Xu Hướng Marketing Đáng Mong Đợi Nhất 2015

Một nhà Marketer thông minh sẽ biết rõ mình cần phải đi trước, tiên đoán những xu hướng mới, hay phải chịu thua trước những đối thủ cạnh tranh. Mọi nền tảng của Marketing đều có cùng một lý thuyết phát triển như nhau, nhưng bối cảnh thay đổi, trong đó có cả tốc độ phát triển vô cùng mạnh mẽ của công nghệ, nên điều quan trọng chính là sự linh hoạt để phù hợp với từng nền tảng.

1. Sự dễ hiểu sẽ trở thành công cụ quan trọng cho Marketing

Người tiêu dùng sẽ tiếp tục sử dụng sức mạnh và sự ảnh hưởng của mình. Sự dễ hiểu có thể nói là điều một số thương hiệu đang có lợi thế, còn đa số còn lại thì đang “chiến đấu” để có được nó. Năm nay sẽ không còn là năm cho những câu chuyện hay nhất hay hàng loạt những câu chuyện được làm mới nữa. Mà là những hình ảnh mới nhất, chính xác nhất tại đúng thời điểm về những gì phù hợp với sở thích của người tiêu dùng.

2. CMOs (Giám đốc Marketing) sẽ trở thành CSOs (Chief Simplifier Officers – Giám đốc Marketing đơn giản)

Rất nhiều công ty cố tạo nên thêm những điều phức tạp, trong khi, bản thân bối cảnh hiện tại đã có quá nhiều điều phức tạp. Họ đã chuẩn bị kĩ càng để đối điện với sự cô lập vô tận, do địa lý, sản phẩm hay tính năng; những điều này ngăn họ có thể hòa hợp với những dòng ý tưởng mới. Để tối ưu sự thấu hiểu người tiêu dùng và sự tương tác với người tiêu dùng, CMOs sẽ phải đưa sự cô lập này trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu của mình. Bằng cách suy nghĩ thấu đáo về mục tiêu chung, thông điệp và sự thấu hiểu khách hàng thông qua những đơn vị kinh doanh, địa lý và nhóm chức năng.

3. Chúng ta sẽ chứng kiến sự nổi lên của các chuyên gia kĩ thuật làm marketing

Rất nhiều công ty đang nghĩ mọi thứ đều liên quan đến digital marketing. Thay vì thế, họ nên nghĩ về marketing trong thời đại digital. Nhà Marketer giỏi trong thế giới digital này sẽ là một chuyên gia kĩ thuật làm marketing, những người có sự nhạy bén về digital và công nghệ. Họ sẽ hòa nhập dễ dàng với những hội nhóm marketing và đóng vai trò vô cùng quan trong việc đưa các  chiến lược marketing phát triển và được thực thi.


4. Người chiến thắng là người hòa nhập được vào sự hối hả của Marketing

Truyền thông mạng xã hội đã tạo nên điều khác biệt, ngày càng có nhiều người tiêu dùng có suy nghĩ giản đơn. Các nhà Marketer ngày nay vẫn thường đuổi theo những con số “like”, “share”, “tweet”, “click” hay những số liệu cập nhật liên tục, nhưng đó đều là những số liệu vô nghĩa. Một nhà Marketer giỏi sẽ là người có nhiều dữ liệu khách hàng hơn, có khả năng thích nghi nhanh hơn, mất ít thời gian hơn và hiểu biết được real-time marketing. Thay vì nhìn vào tháng tiếp theo hay quý tiếp theo, người chiến thắng biết rõ đó nên là “giờ tiếp theo”

5. Công ty Media sẽ bước lên và dẫn đầu

Trước đây, những công ty Media tồn tại nhằm đưa ra những đề xuất về những kênh truyền thông. Nhưng ngày nay, khi sự sáng tạo đạt được thành công phải nhờ vào sự hiệu quả ở kênh tiếp cận. Công ty Media sẽ chuyển mình từ việc để người tiêu dùng bắt gặp kênh tiếp cận thành kênh tiếp cận tìm đến người tiêu dùng. Đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa công nghệ và người tiêu dùng, họ sẽ trở thành những đối tác  chiến lược với các doanh nghiệp và có thể soán ngôi cả những công ty sáng tạo. Họ nắm trong tay số lượng lớn dữ liệu và công nghệ, những tài sản vô giá đối với các nhà Marketer.

6. Các công ty Tây Ban Nha sẽ nổi lên

Người Tây Ban Nha chiếm 17% dân số Mỹ, và chiếm 56% tổng tăng trưởng dân số của nước Mỹ tính từ thế kỉ trước đến nay. Hoạt động của các công ty Tây Ban Nha vượt mức 1000 tỉ USD và có kì vọng tăng trưởng 80% vào năm 2017, nhanh hơn với các công ty khác. Chắc chắn các nhà Marketer sẽ phải chú ý nhiều hơn những công ty Tây Ban Nha. Những công ty này đều có năng lực tương tác tốt với người tiêu dùng từ việc tìm hiểu kĩ nhân khẩu học. Công ty Tây Ban Nha sẽ là một xu hướng mới nổi cho năm 2015 này.

7. Marketing sẽ chuyển đổi từ Toàn cầu hóa sang Cá nhân hóa

Thế giới ngày nay được kết nối với nhau nhờ những kĩ thuật công nghệ, nhưng marketing thì lại ngày càng vùng miền hóa, địa phương hóa và thậm chí ngày càng cá nhân hóa nhờ vào sự thấu hiểu người tiêu dùng, rằng họ không thích đón nhận những điều tương tự nhau. Cá nhân hóa không phải là một xu hướng mà thực sự là một cơn bão ồ ạt, điều đó thay đổi hoàn toàn cách chúng ta nghĩ và điều hành một  thương hiệu toàn cầu. Các công ty sẽ phải phân quyền lại trong chính bộ máy của mình nhằm làm tăng lên sức ảnh hưởng của vùng và địa phương.

8. Việc thu mua sẽ trở nên mạnh mẽ

Những công ty sẽ tiếp tục duy trì lập trường tài chính thận trọng để có trách nhiệm giải trình và đảm bảo sự minh bạch. Việc thu mua sẽ liên quan mật thiết với CMO, CIO, CTO và CFO nhằm xóa bỏ những rào cản nội bộ và tập trung vào khả năng hoạt động của agency, cải thiện sự hiệu quả công việc.

9. Tăng mối quan tâm vào Truyền thông nội bộ

Những công ty sẽ phải tập trung nghiêm túc vào việc truyền thông nội bộ và xem đây như một tài sản marketing. Đó là thách thức và cơ hội chính nhằm tạo nên những đại diện thương hiệu và đảm bảo nhân viên của mình sẽ “sống” vì thương hiệu theo đúng tầm nhìn và  chiến lược của công ty.


10. Công ty cổ phần sẽ loại bỏ tài sản

Những công ty truyền thống đi theo mô hình truyền thông đại chúng, đã trở thành những doanh nghiệp có vị thế. Những nhà quảng cáo khổng lồ đang rình rập để tham gia vào đấu trường digital. Nhưng mô hình kĩ thuật số vẫn kém hấp dẫn họ hơn mô hình truyền thông đại chúng. Với áp lực tăng trưởng đè nặng lên lợi nhuận và ít cơ hội phát triển thông qua hoạt động M&A (mua bán và sát nhập) hơn, đây hẳn sẽ tạo nên áp lực buộc họ phải loại bỏ những tài sản không cần thiết.

11. Lợi ích kinh tế của marketing trong thời đại digital sẽ thách thức các nhà Marketing

Để sáng tạo nên nội dung xuất sắc nên bắt nguồn từ những kênh digtal, nơi tiếp cận gần nhất tới khán giả. Thách thức duy nhất đối với các nhà Marketer chính là giải quyết việc phát triển nội dung nhưng vẫn đi kèm với lợi ích kinh tế.

Nguồn: (Tác giả: Avi Dan – Founder of Avidan Strategies / Biên dịch: Bông Bùi / www.forbes.com)

 

Nhà bán lẻ hàng đầu Thái Lan ‘khẳng định vị thế’ tại thị trường Việt Nam

đăng 23:44, 11 thg 2, 2014 bởi Linh Pham

Central Group tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu về lĩnh vực bán lẻ trong khu vực thông qua việc tăng cường sự hiện diện tại thị trường Việt Nam bằng những sản phẩm, dịch vụ và chiến lược tiếp thị mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu rộng lớn về hàng tiêu dùng và phong cách sống.

Với việc khai trương “Robins” – mô hình Trung Tâm Mua Sắm hoàn toàn mới – Tập đoàn Central, nhà bán lẻ hàng đầu Thái Lan, không những mở rộng sự hiện diện tại thị trường nơi đây mà còn hướng tới mục tiêu trở thành nhà bán lẻ được ưa chuộng nhất với người tiêu dùng Việt Nam.

Ông Tos Chirativat, Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành kiêm Tổng giám đốc Central Group, tiết lộ "Central đã có mặt tại Việt Nam với các cửa hàng mang thương hiệu SuperSports, Crocs và New Balance thông qua hệ thống phân phối của các công ty con thuộc Central Group và nhượng quyền cho các đối tác Việt Nam là minh chứng cho tiềm năng phát triển lớn về sức mua của quốc gia 90 triệu dân với hơn 60% trong độ tuổi lao động và có khả năng chi trả cao. Vì thế, Việt Nam đã và đang trở thành thị trường mục tiêu tuyệt vời và hứa hẹn cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ. Riêng Thủ đô Hà Nội và các vùng phụ cận đang thể hiện sự tăng trưởng bền vững trong những năm vừa qua cùng việc tăng lên không ngừng của thu nhập bình quân đầu người. Bên cạnh đó, luồng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày một tăng lên trong nỗ lực mở rộng kinh doanh trong khu vực Đông Nam Á, cũng là lực hỗ trợ cho sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Các luồng đầu tư này cũng là đòn bẩy cho mô hình tiêu dùng mạnh mẽ hơn trong cộng đồng các đối tượng tiêu dùng mục tiêu của Central suốt 2 năm qua".

Ông Alan Thomson, Chủ tịch công ty Robinson Department Store Public Company Ltd. đồng thời quản lý về hoạt động của Trung Tâm Mua Sắm tại Việt Nam, cho biết: "Trung Tâm Mua Sắm Robins đầu tiên được mở ngoài lãnh thổ Thái lan đang được gấp rút hoàn thiện với diện tích 10.000m2 tại tầng hầm B1 – Trung tâm thương mại Royal City, siêu dự án bán lẻ với tổng diện tích 200.000m2 sàn thương mại và hơn 5.000 căn hộ tại Hà Nội. Bên cạnh vị trí đắc địa, Trung Tâm Mua Sắm Robins còn là mái nhà chung cho các sản phẩm chất lượng được lựa chọn kỹ càng từ các nhãn hiệu quốc tế và nội địa hàng đầu, được điều hành kỹ lưỡng với phong cách hoàn hảo hứa hẹn sẽ đáp ứng mọi nhu cầu cho thế hệ tiêu dùng mới tại Hà Nội".

Với sự góp mặt của hơn 100 nhãn hiệu hàng đầu như M.A.C, Clinique, Lancome, Body Shop, F&F, Mc Jeans, Samsonite, Giordano, Pacific Union,...Khu vực giày dép sở hữu một “bức-tường-giày” độc đáo dài 50m với hơn 20 nhãn hiệu quốc tế và nôi địa nổi tiếng, trong đó có những nhãn hiệu lần đầu xuất hiện tại Việt Nam và chỉ có tại Robins như Hush Puppies và Scholl. Khu vực đồ thời trang Jeans & Denim với các nhãn hiệu Levi’s, Lee, Wrangler và Mc Jeans. Khu vực hàng hóa trẻ em với các sản phẩm độc quyền của “Gift Gate Sanrio”. Khu vực sản phẩm & vật dụng gia đình bao gồm nhiều sản phẩm điện gia dụng đa dạng và tiện lợi. Khu vực mặt hàng thể thao với sự tham gia của Supersports – thương hiệu số 1 về cửa hàng thể thao đa nhãn hiệu tại Thái Lan và đang từng bước chiếm lĩnh vị trí hàng đầu tại Việt Nam.

Hàng hóa được trưng bày tương ứng với các Khu Vực khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người tiêu dùng tìm kiếm và mua sắm. Bên cạnh đó, thiết kế cửa hàng cũng là một trong những yếu tố khác biệt của Robins với các đối thủ cùng loại. Công ty thiết kế Zebra Group đến từ Dubai sẽ tạo ra một môi trường mua sắm hoàn hảo cho người tiêu dùng hiện đại và sẽ mở ra một trải nghiệm hoàn toàn mới đối với người mua sắm Việt.

Với những kinh nghiệm dày dạn của Central Group về ngành Bán Lẻ đã giúp thấu hiểu sâu sắc nhu cầu của người tiêu dùng, các chiến lược tiếp thị của Robins tập trung vào các hoạt động phù hợp với sở thích và lối sống của người bản địa trong khi vẫn duy trì mối quan hệ với các nghệ sĩ, các nhân vật hàng đầu trong ngành thời trang. Các hoạt động với cộng đồng vừa diễn ra phải kể đến: “Cuộc thi thiết kế túi mua sắm cùng Robins 2013” hoặc “Cuộc thi Graffiti Battle” của sinh viên các trường nghệ thuật mang đến sự giao lưu của văn hóa Việt Nam và Thái Lan, đồng thời cũng khẳng định mối quan tâm lớn của cộng đồng bản địa với sự hiện diện của Robins. Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu và tập quán của người tiêu dùng Việt, Robins sẽ cho ra mắt The 1 Card, chương trình chăm sóc khách hàng đã rất thành công tại Thái Lan. Khi mua sắm tại Robins, khách hàng có cơ hội tích lũy điểm thưởng để hưởng các ưu đãi về chiết khấu và các lợi ích hấp dẫn khác. 

“Robins đang chiếm giữ một trong những vị trí đẹp nhất tại Hà Nội”, ông Thomson kết luận, “Trung Tâm Mua Sắm này sẽ phục vụ mọi nhu cầu về hàng hóa của người tiêu dùng Việt Nam với nhiều phong cách sống đa dạng – đặc biệt đối tượng tiêu dùng trẻ. Robins, với sự hậu thuẫn của những kinh nghiệm hàng đầu về bán lẻ của tập đoàn mẹ, cùng các các hoạt động tiếp thị trực tiếp đến người bản xứ, sẽ trở thành một địa điểm mua sắm lý tưởng cho người tiêu dùng Việt. Bên cạnh đó, sau trung tâm đầu tiên tại Hà Nội, chúng tôi đã chuẩn bị kế hoạch cho ra mắt trung tâm thứ hai tại Tp HCM vào cuối năm 2014 với hy vọng sẽ tao ra hơn 1000 việc làm mới cho cả hai thành phố.”

 

Marketing bằng nhạc cổ điển

đăng 23:42, 11 thg 2, 2014 bởi Linh Pham

VTC News) - Tập đoàn gaz Gazprom không quảng bá hình ảnh của mình bằng các chiêu trò Marketing thông thường mà bằng văn hoá âm nhạc cổ điển lâu đời của Nga, một trong những cường quốc trong lĩnh vực nghệ thuật này.

Gazprom là một công ty năng lượng có tiếng trong lĩnh vực tìm kiếm, khai thác, truyền dẫn, lưu trữ, xử lý và quảng bá gas tự nhiên và các sản phẩm hydrocarbon khác tại Nga và trên thế giới.

Gazprom không chỉ là tập đoàn lớn nhất của Nga, sản xuất 74% và lưu trữ 72% lượng gas của quốc gia này mà còn là nhà sản xuất khí gas tự nhiên lớn nhất thế giới, với trữ lượng ước tính lên đến 35,1 ngàn tỉ m3 và chiếm giữ 18% tổng dự trữ gas toàn thế giới.

Đã từ lâu, trái với các quy tắc tiếp thị thông thường, tập đoàn Gazprom không tập trung quảng bá sản phẩm của mình như kiểu truyền thống các doanh nghiệp, công ty thường làm, mà lại chú trọng đầu tư vào những dự án hỗ trợ cộng đồng không mấy liên quan đến sản phẩm của tập đoàn này.

Ba mục tiêu Gazprom tập trung và dành sự quan tâm đầu tư lớn nhất là con người, nghệ thuật và thể thao. Trong đó, nghệ thuật được chú trọng nhiều nhất và số tiền thu lại từ các hoạt động nghệ thuật sẽ được tặng cho các tổ chức về con người.

Chọn âm nhạc là điểm trọng tâm cho các chiến dịch quảng bá hình ảnh của mình đến với thế giới, Gazprom đã có một hướng đi cực kì khôn ngoan. Tạo được điểm nhấn trong vô vàn cách thức Marketing các công ty khác hàng ngày sử dụng và nhân rộng hình ảnh của mình đến với mọi người, bằng một con đường hết sức gần gũi và thân thiện: Âm nhạc.

Nếu như tiếp thị bằng các chiêu trò có thể làm cho mọi người có ấn tượng xấu về một thương hiệu thì âm nhạc không như thế, âm nhạc kết nối con người, đem mọi người đến gần với nhau hơn. Và âm nhạc là không có biên giới.

Gần đây nhất, Gazprom đã tổ chức buổi trình diễn với sự tham gia của 3 thần đồng âm nhạc người Nga gồm nghệ sĩ đàn violin Alena Baeva, nghệ sĩ đàn cello Alexander Buzlov và nghệ sĩ kèn clarinet Valentin Uryupin với dàn nhạc giao hưởng thuộc Tổ chức những nhạc sĩ trẻ.

Dù buổi hòa nhạc không bán vé nhưng nhằm hỗ trợ cho nền nghệ thuật của Singapore và châu Á, Gazprom vẫn quyên góp được 20.000 USD cho tổ chức này.

Cả 3 thần đồng âm nhạc tham gia còn dành ra 3 ngày trước buổi hòa nhạc, tổ chức một khóa học đặc biệt cho các sinh viên đến từ nhiều viên âm nhạc, bao gồm Học viện Nghệ thuật Singapore, Viện Mỹ thuật Nanyang và Nhạc viên Yong Siew Toh, trực thuộc Đại học Quốc gia Singapore. Rất nhiều học viên của khóa học này là sinh viên Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia.

       Trực tiếp trả lời phỏng vấn, ông Serguei Edrenkine, Tổng Giám Đốc của Gazprom Marketing & Trading Singapore, chia sẻ: “Một vài người có thể hỏi tại sao Gazprom, một tập đoàn năng lượng, lại tham gia các hoạt động văn hóa và nghệ thuật nhiều như thế. Chúng tôi tin rằng âm nhạc và nghệ thuật là những phần thiết yếu của xã hội. Chúng phản chiếu tinh thần của mỗi quốc gia và nếu thiếu thì sẽ không còn ý nghĩa gì nữa”

         Là một phần trong chuỗi những kế hoạch dài hạn của Tập đoàn Gazprom, sự kiện Synergy in Music vừa qua được xem như là phần nhỏ trong sự đóng góp của tập đoàn này đến nền văn hóa nghệ thuật ASEAN với mong muốn truyền cảm hứng cho mọi người bằng âm nhạc cổ điển.

Hong Kong: Hoạt động triển lãm BĐS cho sinh viên tạm ngưng

đăng 19:03, 11 thg 9, 2013 bởi Linh Pham

Các công ty BĐS chuyên bán nhà ở cho sinh viên nước ngoài tại Hong Kong đã đồng loạt tạm ngưng hoạt động trưng bày cho tới khi các nguyên tắc điều lệ của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SFC) được sáng tỏ.

Động thái này được đưa ra sau khi SFC nêu ra các quy định liên quan đến việc đề xuất và xúc tiến Quỹ Đầu tư tín thác (CIS). Các công ty BĐS hiện đang kiểm tra các quỹ này để đảm bảo rằng các dự án của họ không bị bao gồm trong đó.

Theo SFC, thông thường CIS bao gồm 4 yếu tố liên quan:
1.    Nó phải liên quan đến một thỏa thuận về BĐS;
2.    Các bên tham gia không có quyền quản lý tài sản hàng ngày dù cho họ được quyền xin tư vấn hay chỉ đạo việc quản lý BĐS;
3.    BĐS được quản lý toàn bộ bởi, hoặc trên danh nghĩa của người đứng ra sắp xếp thỏa thuận, và sự đóng góp của các bên tham gia cùng lợi nhuận hoặc thu nhâp từ những khoản thanh toán họ nhận được sẽ được gộp chung lại;
4.    Mục đích của việc thỏa thuận là để các bên tham gia đóng góp hoặc thu về lợi nhuận, thu nhập hay các lợi ích khác từ việc mua lại hoặc quản lý BĐS.



Quỹ Đầu tư tín thác là một thuật ngữ được quy định tại Mục 1 trong Pháp lệnh Chứng khoán và Giao dịch (SFO) áp dụng cho các sản phẩm đầu tư mang tính chất tập thể, có thể bao gồm bất kỳ loại tài sản nào, trong đó có BĐS, bất kể nằm tại Hong Kong hay nước ngoài.


Julie Harvey, Giám đốc Kinh doanh và Marketing quốc tế tại Pinnale MC Global, công ty đã tiếp thị đề án nhà ở cho sinh viên tại Anh ở nước ngoài, cho biết: “Đây không phải tin tốt lành cho các công ty như chúng tôi và các đại diện của chúng tôi tại Hong Kong. Đại diện của chúng tôi đã phải tạm ngừng triển lãm tại Hong Kong trong khi chúng tôi được tư vấn pháp lý để đảm bảo rằng công trình của chúng tôi không bị phân loại CIS”.

Các quy định dược đưa ra đồng nghĩa với việc Pinnacle và các công ty khác sẽ phải thay đổi cách thức phối hợp và tiếp thị dự án của họ tới các nhà đầu tư Hong Kong.

Bà Harvey cho biết thêm: “Trong tương lai chúng tôi có thể sẽ phải thay đổi cách thức kết hợp các dự án dành cho sinh viên để phù hợp với thị trường Hong Kong. Người dân Hong Kong thích đầu tư ở Anh, do đó sẽ rất đáng buồn nếu không tìm ra được giải pháp. Cùng lúc đó, chúng tôi đang tiếp tục bán ra số lượng căn hộ cho sinh viên kỷ lục thông qua các đại diện tại Trung Quốc, Singapore, Malaysia và con số đang tăng dần tại Anh”.

SFC là một cơ quan pháp định độc lập được thành lập nhằm điều tiết thị trường chứng khoán và giao dịch tại Hong Kong.

Đồng thời với việc vạch ra các quy định từ Pháp lệnh Chứng khoán và Giao dịch (SFO) liên quan đến quản lý đề xuất và xúc tiến CIS, SFC cũng đưa ra một lời nhắc nhở tới những người có ý định thúc đẩy quỹ CIS, trong đó nói rằng việc vi phạm các quy định có thể cấu thành tội phạm.

Theo SFO, sẽ bị coi là một hành vi phạm tội nếu phát hành bất kỳ một tài liệu tiếp thị nào có nội dung mời gọi công dân tại Hong Kong mua lại một khoản lợi nhuận hoặc tham gia vào một Quỹ CIS, trừ khi nó đã được SFC cấp phép hoặc được áp dụng miễn thuế.

Ngoài ra, xúc tiến CIS có thể tạo ra kinh doanh trong một phạm trù được quy định, và thường đòi hỏi phải có giấy phép của SFC, và nếu như không xin được giấy phép này có thể sẽ dẫn tới cấu thành tội phạm theo SFO.

SFC đưa ra lời khuyên: “Bất kỳ ai muốn đề xuất hay xúc tiến thỏa thuận đầu tư với công dân Hong Kong cần phải nhận thức được những hạn chế do SFO gây ra, và tìm đến sự tư vấn chuyên nghiệp nếu còn nghi ngờ để đảm bảo tuân thủ pháp luật”.

Các nhà đầu tư còn nghi ngại về bản chất và tình trạng pháp lý của bất kỳ thỏa thuận đầu tư nào đều được khuyên tìm kiếm sự tư vấn chuyên nghiệp trước khi bắt tay đầu tư.

Theo SFC, CIS “bao quát và hiện đại hóa khái niệm “đơn vị đầu tư ủy thác”, “liên doanh quỹ đầu tư tương hỗ” và “thỏa thuận đầu tư” trước đây được quy định trong Pháp lệnh Chứng khoán đã bị bãi bỏ và Pháp lệnh Bảo vệ nhà đầu tư”.

Sinh viên kiếm thu nhập ngay trong quá trình học

đăng 00:14, 10 thg 9, 2013 bởi Linh Pham

Thời buổi kinh tế khó khăn, vấn đề vừa học vừa làm đã không còn xa lạ với sinh viên. Nhưng phải làm sao để sinh viên có thể làm đúng với ngành nghề mình học nhằm gia tăng tính thực tiễn của chương trình đào tạo cũng như tích lũy kinh nghiệm thực tế cho các bạn là cả một vấn đề.

Thị trường lao động hiện nay có hàng nghìn đầu việc bán thời gian dành cho sinh viên với các công việc như bán hàng, tư vấn, tiếp thị, phát tờ rơi, dạy thêm… Những công việc này giúp các bạn tự tin hơn, giao tiếp tốt hơn, tích lũy các kỹ năng sống cũng như kiếm thêm thu nhập để trang trải cuộc sống. Tuy nhiên, đa phần những công việc này không đúng với chuyên ngành sinh viên theo học, không bổ trợ trực tiếp cho ngành học cũng như kỹ năng hành nghề của các bạn khi ra trường. Đặc biệt, sinh viên theo học các khối ngành kỹ thuật thì những công việc này hầu như ít liên quan đến chuyên ngành của các bạn.

Trước thực trạng trên, từ tháng 8/2013, Trường Cao đẳng nghề CNTT iSpace thí điểm mô hình “vừa học vừa kiếm tiền” đúng chuyên ngành, với hai nghề thí điểm là Thiết kế đồ họa và Internet Marketing.

Tham gia chương trình “vừa học vừa kiếm tiền”, sinh viên chỉ cần đóng học phí năm đầu tiên. Kể từ năm thứ hai, sinh viên được đánh giá năng lực để tham gia vào các dự án cùng với nhà trường và được nhận thù lao tương ứng với việc hoàn thành các hạng mục của dự án đó. Mức thù lao dao động từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng mỗi tháng tùy thuộc vào năng lực từng sinh viên. Như vậy, chỉ cần đầu tư một năm học phí, sau đó sinh viên có thể tự kiếm tiền bằng chính nghề mình đã chọn để đóng học phí cho thời gian học còn lại.

“Mong muốn của nhà trường khi đưa ra mô hình này là tạo điều kiện để sinh viên có thể tôi luyện kỹ năng hành nghề, trở thành những chuyên viên giỏi sau này; và tạo cơ hội để các bạn kiếm thu nhập ngay trong quá trình học với chính ngành nghề của mình.” - thầy Nguyễn Hoàng Anh, Hiệu trưởng iSpace, chia sẻ.

Kích cầu nhân tháng khuyến mãi

đăng 00:12, 10 thg 9, 2013 bởi Linh Pham

Để kích cầu và chia sẻ gánh nặng chi tiêu với người tiêu dùng (NTD), các doanh nghiệp, nhà bán lẻ tại  TPHCM, Hà Nội... đã tăng cường các hoạt động khuyến mãi, giảm giá. Đặc biệt, tại TPHCM trong suốt tháng 9 diễn ra “Tháng khuyến mãi 2013” với số lượng hoạt động, quy mô chưa từng có.

Nét mới trong hoạt động kích cầu

Theo Sở Công Thương TPHCM, so với các năm trước, chương trình Tháng khuyến mãi 2013 được sự hưởng ứng của đông đảo DN với sự tham gia của 850 DN, hơn 3.000 điểm bán hàng. Các mặt hàng tham gia chương trình ngày càng phong phú, tập trung chủ yếu vào nhóm các mặt hàng thiết yếu như hàng kim khí - điện máy; thực phẩm tươi sống và chế biến; hàng gia dụng, thời trang – may mặc,...

Các hình thức khuyến mãi cũng đa dạng nhưng đa phần các DN chọn phương thức giảm giá trực tiếp để giảm gánh nặng chi tiêu cho NTD. Mức giảm giá các mặt hàng tham gia chương trình khá cao, chẳng hạn hệ thống siêu thị điện máy Thiên Hòa giảm giá bán hàng ngàn mặt hàng đến 49%; hệ thống siêu thị Co.opMart giảm giá bán từ 5 - 49% đối với 2.000 mặt hàng; siêu thị Big C giảm giá từ 5 - 49% cho hơn 1.000 sản phẩm...

Bên cạnh đó, từ 30.8-3.9, Hội chợ khuyến mãi với hơn 400 gian hàng đã góp phần tuyên truyền cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, trở thành nơi mua sắm, vui chơi, giải trí đáng tin cậy vào dịp nghỉ lễ.

Chị Thanh Thảo - chung cư Sacomreal 584, quận Tân Phú - cho biết: “Đến với hội chợ, NTD tin cậy các sản phẩm bày bán là hàng thật của các DN có uy tín, đặc biệt được giảm giá trực tiếp 30-40% so với giá bán thông thường”.

Tháng khuyến mãi tại TPHCM năm nay có thêm sự kiện “Con đường khuyến mãi” diễn ra từ 19-28.9 tại các tuyến đường Hoàng Văn Thụ, Hoàng Việt, Út Tịch, Xuân Diệu, Xuân Hồng. Trên cùng một tuyến đường, các DN đồng loạt thực hiện các chương trình khuyến mãi như: Giảm giá, tặng phẩm, sử dụng miễn phí, rút thăm trúng thưởng,... nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân.

Hàng trăm chuyến hàng lưu động tiếp cận NTD

Bà Lê Ngọc Đào - PGĐ Sở Công Thương TPHCM - cho biết, sở giao nhiệm vụ cho 3 đơn vị chủ lực: TCty Thương mại Sài Gòn, Liên hiệp HTX Thương mại SaiGon Co.op và Cty Ba Huân phối hợp với hơn 30 DN tham gia tổ chức bán hàng lưu động.

Nhằm đưa hàng hóa chất lượng, giá cả hợp lý đến với sinh viên, công nhân, người dân vùng sâu, vùng xa, năm nay Sở Công Thương TPHCM tăng thêm tần suất tổ chức chuỗi phiên chợ. 122 chuyến bán hàng lưu động và nhiều phiên chợ tại các KCN-KCX, các huyện ngoại thành sẽ lần lượt diễn ra trong tháng 9. Mỗi phiên chợ sẽ có khoảng 80 gian hàng, bày bán khoảng 200-300 mặt hàng, với nhiều hoạt động thiết thực như giảm giá bán, tặng quà cho NTD.

Tại lễ xuất quân bán hàng lưu động, ông Võ Hoàng Anh - GĐ Marketing Saigon Co.op chia sẻ: “Chương trình đồng hành cùng hàng Việt được Saigon Co.op thực hiện xuyên Việt theo lộ trình từ Cà Mau, qua TPHCM, các tỉnh miền Đông đến miền Trung và kết thúc tại Hà Nội sẽ là cầu nối gắn kết nhà cung cấp, nhà sản xuất Việt phục vụ dân cư vùng sâu, vùng xa, công nhân các KCN, KCX nhằm quảng bá hàng Việt”.

Tổng số chuyến bán hàng lưu động dự kiến thực hiện trong chương trình Đồng hành cùng hàng Việt 2013 khoảng 150 chuyến và hàng hóa mang đi phục vụ bà con là hàng tiêu dùng thiết yếu sản xuất trong nước, có xuất xứ rõ ràng, đảm bảo chất lượng với mức giá giảm  từ 5 – 30%, một số mặt hàng giảm giá đến 50%. Sở Công Thương TPHCM cũng cho biết, sẽ tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát để đảm bảo nguồn hàng có chất lượng, đúng giá cả khuyến mãi.

Siêu thị điện máy không bán được 500 triệu đồng/ngày là lỗ

đăng 00:11, 10 thg 9, 2013 bởi Linh Pham

Theo tính toán của chính các doanh nghiệp, để vận hành một siêu thị điện máy, chi phí mỗi tháng không dưới 5 tỷ đồng, một năm khoảng 60 tỷ đồng. Để hòa vốn thì các DN phải đạt doanh số 15 tỷ đồng/tháng, tính ra mỗi ngày phải bán được 500 triệu đồng.

Dưới mức này coi như thua lỗ.

Mới đây chuỗi siêu thị điện máy HomeOne (Công ty CP Dịch vụ Bán lẻ Tiên Phong) vừa đóng cửa siêu thị điện máy tại ngã ba Phan Văn Trị - Nguyễn Oanh (Quận Gò Vấp, TP.HCM) vào chiều ngày 31/8 và tại tầng B1 của Vincom Center A (Quận 1, TP.HCM) vào ngày 2/9 vừa qua.

Trước đó từ nhiều tháng, HomeOne  nợ tiền thuê mặt bằng, tiền lương nhân viên lên tới hàng tỷ đồng do kinh doanh thua lỗ. Khi mới thành lập, HomeOne có số vốn khoảng 200 tỷ đồng, nhưng chỉ sau 2 năm kinh doanh đã gần như kiệt sức và phải ngừng hoạt động.

Siêu thị điện máy không bán được 500 triệu đồng/ngày là lỗ
Nhiều hệ thống siêu thị kinh doanh điện máy đang trong tình cảnh khó khăn, sức mua giảm doanh thu lợi nhuận giảm cùng với đó "cuộc chiến" cạnh tranh khiến không ít doanh nghiệp kinh doanh điện máy phải phá sản.

Tương tự như HomeOne, hệ thống siêu thị Việt Long, một trong những thương hiệu Việt đầu tiên trong lĩnh vực bán lẻ điện máy cũng đang trong tình cảnh hết sức khó khăn. Nhiều nhà cung cấp không còn chịu bán hàng trả chậm, mà yêu cầu Việt Long muốn mua hàng phải thanh toán ngay. Cách đây 3 tháng, Việt Long đã phải đóng cửa siêu thị điện máy lớn tại số 10 Trần Phú (Hà Đông- Hà Nội).

Theo lý giải của các chuyên gia, giữa các doanh nghiệp kinh doanh điện máy hiện nay đang diễn ra “cuộc chiến” ngầm rất khốc liệt. Chính sự cạnh tranh và những chiêu trò nhằm triệt hạ đối thủ này đã khiến các doanh nghiệp kinh doanh điện máy đang cùng kéo nhau “chết chìm” với những khó khăn chồng chất.

Những khó khăn không chỉ diễn ra với đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ. Ngay cả những “đại gia” điện máy như Trần Anh, Pico... cũng thừa nhận đang gặp khó khăn. 

Tuy nhiên, khi trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam về thông tin quý 2/2013 Trần Anh lỗ 6 tỷ đồng - ông Lê Việt Chung - phụ trách Marketing Hệ thống siêu thị điện máy – máy tính Trần Anh cho rằng: “Không có chuyện Trần Anh lỗ 6 tỷ đồng, thông tin đăng tải trên một số báo là do nhầm lẫn. Trong quý 2/2013 Trần Anh lãi 1,5 tỷ đồng, thông tin này chúng tôi đã đăng tải công khai trên trang web chính thức của Trần Anh trong phần báo cáo Tài chính quý 2/2013”.

Nói về những chiêu trò nhằm triệt hạ từ các đối thủ cạnh tranh, ông Lê Việt Chung cho rằng, quyền quyết định cuối cùng và quan trọng nhất vẫn là sự lựa chọn của người tiêu dùng. Theo ông Chung người tiêu dùng hiện nay cũng rất thông minh họ chủ động nắm bắt mọi thông tin liên quan đến sản phẩm, chương trình khuyến mại marketing không lành mạnh. “Từ đó người tiêu dùng cũng hiểu ra vấn đề do vậy không dễ để các đối thủ cạnh tranh có thể bôi xấu, bịa đặt cho Trần Anh” ông Chung nói. 

Thứ hai, nếu xảy ra việc cạnh tranh giá, Trần Anh sẽ làm việc lại với các hãng để họ sẽ đồng thuận đưa ra giá đồng nhất cho toàn bộ hệ thống để không gây thiệt hại về kinh tế và danh tiếng của doanh nghiệp”, ông Chung phân tích. 

Liên quan đến việc Trần Anh đầu tư mở rộng thêm nhiều điểm cơ sở kinh doanh thời gian qua khiến nhiều người lo lắng cho rằng đây sẽ là sự mạo hiểu của Trần Anh, tuy nhiên theo lý giải của ông Chung đây là động thái đi trước một bước đón đầu thị trường, “khi thị trường ấm lên Trần Anh sẽ đi trước một bước để bứt phá”, ông Chung nhấn mạnh.

Cũng trao đổi với phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam về những chiêu trò nhằm cạnh tranh giành thị trường của doanh nghiệp kinh doanh điện máy, ông Nguyễn Quang Đức - Phó phòng Marketing của hệ thống siêu thị điện máy Pico cho rằng, trong kinh doanh câu chuyện đó là không tránh khỏi.

“Thực ra trong cạnh tranh việc một đơn vị kinh doanh mặt hàng này bị các đối thủ khác có hành vi “chơi xấu” bằng cách này cách kia là chuyện bình thường. Với Pico khi gặp phải những trường hợp như vậy thay vì tranh cãi chúng tôi thể hiện bằng cách tăng cường làm tốt hơn nữa việc phục vụ khách hàng. Thường sau đó một thời gian khi khách hàng nhận ra sau đó hành vi “chơi xấu” kia của những đối thủ cạnh tranh sẽ tự biến mất” – ông Nguyễn Quang Đức cho biết.  

Theo lời kể của ông Đức, trước đây có trường hợp một đơn vị liên tục đăng tải thông tin so sánh giá máy tính của Pico với các sản phẩm của họ và cho rằng giá trừ khuyến mại của Pico cao hơn của họ. Đó là cách cạnh tranh không lành mạnh nhưng sau đó đơn vì này cũng tự gỡ bỏ vì không hiệu quả.

Thực tế các đơn vị kinh doanh điện máy hiện nay đang chạy đua cạnh tranh trên thị trường. Để đánh bại đối thủ có đơn vị còn đứng sau “đạo diễn” dưới chiêu bài người tiêu dùng để “soi” các chiến lược kinh doanh, chương trình khuyến mại của đối thủ. Theo ông Đức, tuy chưa có bằng chứng nhưng điều này là có và cũng không thể tránh khỏi nhất là với môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

Về tình hình kinh doanh Pico thời gian qua ông Đức cho biết, kết quả kinh doanh của Pico trong 6 tháng đầu năm giảm 10%, lợi nhuận thấp đi nhiều do sự cạnh tranh của nhiều đơn vị và kinh tế khó khăn. Về kết quả kinh doanh của cuộc “Nam tiến” với siêu thị đầu tiên của Pico tại TP.HCM, theo ông Đức do mới khai trương và hoạt động lại rơi đúng thời điểm nền kinh tế khó khăn nên so với kỳ vọng Pico phía Nam chỉ đạt 80% so với kỳ vọng. 

Đánh giá việc Trần Anh đang đi ngược xu thế khi quyết định đầu tư mạnh mẽ mở thêm nhiều điểm bán hàng ở nhiều nơi cùng một lúc, ông Nguyễn Quang Đức cho rằng, mỗi doanh nghiệp có một chiến lược kinh doanh khác nhau, có doanh nghiệp càng khó khăn càng đầu tư mở rộng thị trường. 

“Quan điểm của Pico khi mở điểm kinh doanh phải chọn vị trí đẹp, diện tích lớn thu hút lượng khách hàng lớn chứ không chạy theo số lượng điểm” – ông Đức nói.

Mặt khác theo tính toán của chính các DN, để vận hành 1 siêu thị, chi phí mỗi tháng không dưới 5 tỷ đồng, một năm khoảng 60 tỷ đồng. Để hòa vốn thì các DN phải đạt doanh số 15 tỷ đồng/tháng, tính ra mỗi ngày phải bán được 500 triệu đồng. Dưới mức này coi như thua lỗ. Trong khi đó, doanh thu các mặt hàng điện máy của nhiều siêu thị tại Hà Nội hiện chỉ ở mức 100 triệu đồng/ngày.

Điểm danh các thương hiệu Việt bị đại gia ngoại thâu tóm (P1)

đăng 00:09, 10 thg 9, 2013 bởi Linh Pham

Có những thương hiệu thuần Việt từ lâu đã đi vào tiềm thức của người dân nhưng nay tìm đỏ mắt cũng không thấy chúng trên thị trường. Một số thương hiệu vì không đủ sức cạnh tranh trên thị trường ngày một khốc liệt còn một số khác đã bị doanh nghiệp ngoại thâu tóm.

Kem đánh răng P/S về tay Unilever.

Nhãn hiệu kem đánh răng P/S được Công ty hóa phẩm P/S trực thuộc Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh phát triển từ năm 1975. Trong một giai đoạn rất dài, không dưới 20 năm (1975 – 1995) P/S đã xác lập được vị thế dẫn đầu về sản phẩm chăm sóc răng miệng trên thị trường Việt Nam và chiếm được lòng tin yêu của đông đảo người tiêu dùng Việt.

Chính vì vậy, trong tâm trí các thế hệ người Việt Nam thời đó, P/S là một niềm tự hào của hàng tiêu dùng Việt, là một dấu ấn khó có thể phai mờ.
Năm 1995, tập đoàn đa quốc gia Unilever đàm phán để được nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu kem đánh răng P/S với giá nhượng quyền cực kì hấp dẫn vào thời điểm đó là 5 triệu USD.

Sau khi nhượng quyền, P/S dần đánh mất vị thế trên thị trường cả về chất lượng, giá cả cũng như mẫu mã. Và cuối cùng từ nhượng quyền P/S đã bị thâu tóm và trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Bột giặt Viso – Xót xa thương hiệu Việt lâu đời

Viso cũng là nhãn hiệu bột giặt lâu đời và là một trong những niềm tự hào của Việt Nam. Thuở ban đầu, Viso là tài sản của ông Trương Văn Khôi, người được mệnh danh vua bột giặt Viso.

Viso là sản phẩm hướng tới người tiêu dùng bình dân với mức giá cả phù hợp với túi tiền củađại bộ phận công chúng. Chất lượng Viso cũng là một trong các yếu tố được người tiêu dùng Việt Nam đánh giá cao. Viso chiếm thị phần đáng kể trong phân khúc bột giặt.

Mặc dù được đánh giá cao cả về giá cả lẫn chất lượng nhưng Viso cũng không thể giữ được một thương hiệu bột giặt thuần Việt.

Khi mới đặt chân vào thị trường Việt Nam, Unilever cũng như nhiều tập đoàn đa quốc gia khác chọn hình thức liên doanh để tiếp cận thị trường. Unilever khi đó hợp tác với nhiều công ty bột giặt đang có thị phần lớn ở trong nước để lập liên doanh. Và kết quả là các liên doanh như Lever-Viso, Lever-Haso lần lượt ra đời.

Không chỉ dừng lại ở đó, các tập đoàn đa quốc gia tìm đủ mọi cách để biến những liên doanh như vậy thành công ty 100% vốn nước ngoài. Trường hợp của Lever-Viso cũng vậy. Từ doanh nghiệp thuần Việt trở thành liên doanh và cuối cùng thương hiệu Viso không còn là của người Việt.

Bibica bị thâu tóm bởi Lotte

Việc thâu tóm Bibica của tập đoàn Lotte đã được thực hiện trong thời gian khá dài, cụ thể mua 4,6 triệu cổ phiếu (tương đương 30,15%) trên sàn từ năm 2007, sau đó đến đầu năm 2008 mua thêm 5,5% cổ phần, chiếm tỷ lệ sở hữu lên đến 35,65%.

Ngay tại thời điểm đó có ý kiến cho rằng với các quy định nhà đầu tư nước ngoài không được sở hữu quá 49% cổ phiếu của công ty cổ phần, Lotte không thể hoàn toàn chiếm lĩnh được Bibica. Nhưng 51% cổ phần thuộc về Bibica lại nằm rải rác ở rất nhiều cổ đông, trong khi toàn bộ công nghệ, kỹ thuật, chiến lược và chức vụ quan trọng nhất là chủ tịch HĐQT đều do Lotte nắm giữ, thì Lotte vận hành Bibica theo guồng máy của họ là hiển nhiên.

Và sự thật là vào thời điểm tháng 3.2012 , chưa cần sở hữu đến 49%, nhưng Lotte đã nắm vị trí chủ chốt và quyền điều hành quan trọng trong công ty Bibica thông qua hai chức danh quan trọng là chủ tịch HĐQT và giám đốc tài chính.

Dấu chấm hết cho Tribeco  

Tribeco trước ngày bị Uni-President Việt Nam (công ty mẹ ở Đài Loan) thâu tóm, đã có lịch sử 20 năm hoạt động và được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao trong 11 năm liền. Lên sàn vào cuối năm 2001, chính thức liên doanh vào năm 2008 và tuyên bố giải thể vào tháng 8.2012.

Năm 2001, Tribeco là doanh nghiệp thứ 9 lên sàn chứng khoán TP.HCM với mã cổ phiếu TRI và liên tục nhiều năm sau đó được đánh giá cổ phiếu tốt, bởi có hoạt động kinh doanh hiệu quả. Đặc biệt, TP.HCM còn chọn 2 sản phẩm của công ty là sữa đậu nành và nước ngọt có ga làm sản phẩm công nghiệp chủ lực. Về mặt thương hiệu, Tribeco tạo được hiệu ứng hình ảnh rất tốt khi tham gia tài trợ cho cuộc đua xe đạp Cúp truyền hình TP.HCM liên tục trong nhiều năm. Đây là chương trình marketing hiệu quả được đánh giá cao vào thời điểm đó. Liên tục nhiều năm liền cổ phiếu TRI luôn được các quỹ đầu tư chăm sóc tận tình bởi cổ tức được trả đều mỗi năm trên dưới 18%... TRI yên lành cho đến ngày họ quyết định bắt tay với "ông lớn".

Năm 2005, Công ty cổ phần bánh kẹo Kinh Đô, đang là thương hiệu bánh kẹo mạnh của thị trường nội địa, tham vọng mở rộng sang nước giải khát đã chọn TRI để đầu tư. 35% cổ phần của TRI được Kinh Đô mua lại và vị Tổng giám đốc Kinh Đô lúc đó không giấu giếm khi cho biết: “Việc thâu tóm Tribeco nằm trong định hướng của công ty”.

Sau khi có cổ đông lớn là Kinh Đô, trong hai năm 2006 và 2007, Tribeco tiếp tục xây 2 nhà máy lớn là Tribeco Bình Dương và Tribeco Miền Bắc (Hưng Yên) với tỷ lệ góp vốn Tribeco 80%, Kinh Đô 20%. Tiếp đó, đầu năm 2007, Tribeco lại tiếp tục bán 15% cổ phần cho đối tác đến từ Đài Loan Uni-President. Tuy nhiên, đó là những quyết định đầu tư vội vã và đánh giá sai thị trường. 

Cũng chính thua lỗ triền miên, năm 2010, TRI đã bán hết cổ phần Tribeco Miền Bắc, cuối năm 2011 bán hết Tribeco Bình Dương. Chấm dứt giấc mơ mở rộng sản xuất và thị phần ngắn ngủi. 

Ngày 24/8/2012, Tribeco đã tổ chức đại hội bất thường để xin ý kiến cổ đông thông qua việc giải thể công ty. Tới đầu tháng 9, mọi hoạt động của Tribeco Sài Gòn do Tribeco Bình Dương tiếp nhận. Như vậy, Tập đoàn Đài Loan nay đang kiểm soát toàn bộ thương hiệu nước giải khát Việt Nam. Uni-President Việt Nam nắm quyền chi phối và sở hữu 100% Tribeco Bình Dương.

1-10 of 17