Tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nước ngoài

Với chính sách mở cửa, chủ động hội nhập, sẵn sàng làm bạn với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ĐTNN, bao gồm FDI, ODA, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân.

Tốc độ tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam qua hàng năm đều tăng. Điều này được thể hiện ở bảng dưới đây: (xem bảng ở cuối trang)
Có được kết quả trên trước hết là phải kể tới sự đóng góp tích cực của công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đảm nhận thực thi chương trình xúc tiến đầu tư cấp quốc gia. Trung tâm xúc tiến đầu tư ba miền Bắc – Trung – Nam có chức năng thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố và Ban quản lý các KCX, KCN có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động xúc tiến đầu tư ở các mức độ khác nhau. Mặc dù các cơ quan này đã nỗ lực đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, nhưng vẫn còn nhiều bất ổn trong chính sách và dịch vụ cung cấp cho các nhà đầu tư hiện tại, cũng như nhà đầu tư tiềm năng. Điều đó đã phần nào giảm tính hấp dẫn đối với các nhà ĐTNN. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, một số nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể không thu xếp đủ vốn để theo đuổi các dự án đã cam kết của Việt Nam trong thời gian tới.
Trước tình hình này, để thực hiện được vai trò là công cụ hiệu quả đối với việc thu hút ĐTNN, hơn lúc nào hết, công tác vận động, xúc tiến đầu tư cần phải tiếp tục đẩy mạnh, cần phải đón đầu các xu hướng phát triển và chuyển dịch của các luồng vốn giữa các nền kinh tế trên thế giới. Để thực hiện được nhiệm vụ này, trước hết, phải thống nhất quan điểm coi công tác xúc tiến đầu tư là giải pháp quan trọng nhằm giành thế chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, là công cụ không thể thiếu trong cạnh tranh quốc tế nhằm thu hút vốn ĐTNN. Muốn vậy, các cơ quan nhà nước, từ trung ương đến địa phương và cộng đồng các doanh nghiệp, phải coi các nhà đầu tư đã có mặt tại Việt Nam, như một cầu nối quan trọng trong việc tiếp tục thúc đẩy, thu hút ĐTNN.
Đối với cấp trung ương, cần phải nâng cao vai trò đầu mối quản lý và chỉ đạo công tác xúc tiến đầu tư xây dựng một chiến lược quốc gia tổng thể về xúc tiến đầu tư trong tình hình mới; nâng cao vai trò của công tác xúc tiến đầu tư chú trọng đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ xúc tiến đầu tư theo hướng chuyên nghiệp hoá; đẩy mạnh việc khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới công tác xúc tiến đầu tư và liên kết các nguồn lực một cách hiệu quả. Đối với cấp địa phương, cần phải đánh giá lại tiềm năng, lợi thế của mình để xác định đúng lợi thế so sánh, đặt lợi ích của địa phương trong lợi ích quốc gia; nâng cao tính chủ động trong việc lựa chọn và tiếp nhận nguồn vốn đầu tư, đồng thời tăng cường và phối hợp chặt chẽ hơn nữa với trung ương, trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, cũng như tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư. Cần phải có một cơ quan chuyên trách ở cấp quốc gia. Cơ quan này có vai trò phối hợp, giúp đỡ và quản lý các hoạt động xúc tiến đầu tư ở các địa phương, nhằm nâng cao tính hiệu quả và ổn định hoạt động này. Cơ quan này cũng chịu trách nhiệm quyết định chính và đưa ra định hướng rõ ràng trong công tác quản lý, cũng như hoạt động của mình thông qua các kế hoạch quốc gia.
Bên cạnh đó, cần cải thiện kỹ thuật xúc tiến đầu tư, thực hiện các hoạt động tạo nguồn đầu tư, nâng cấp các dịch vụ đầu tư, thông qua một chiến dịch tạo dựng hình ảnh Việt Nam với những tài liệu, ấn phẩm thông tin đa dạng, bảo đảm tính xác thực, độ tin cậy, tính tiện ích và khả năng dễ tiếp cận.
Cải thiện nguồn nhân lực cho công tác xúc tiến đầu tư cũng là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay. Một chính sách và khuôn khổ pháp lý rõ ràng, các chiến lược xúc tiến bài bản, cùng những cán bộ có kinh nghiệm và nhiệt tình, được đào tạo về kỹ năng, về khả năng nắm bắt tốt những nhiệm vụ liên quan, là sự bảo đảm chắc chắn cho việc thực hiện hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư.
Tăng cường nguồn tài chính cho hoạt động xúc tiến đầu tư cũng cần được quan tâm. Bởi vì, hiệu quả hoạt động của các cơ quan xúc tiến đầu tư phụ thuộc một phần quan trọng vào nguồn tài chính dành cho công tác này. Do vậy, Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan cần nghiên cứu và đề ra chính sách cụ thể, trích từ ngân sách nhà nước hoặc từ các quỹ phát triển khác nhau, một khoản kinh phí hợp lý, để thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tư, nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thu hút ĐTNN.
Một điều quan trọng nữa là cần hoàn thiện khung pháp lý, chính sách về ĐTNN và về công tác xúc tiến ĐTNN; trong đó, chú trọng việc phối hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư, đổi mới về hình thức và biện pháp thực hiện, cũng như hợp lý hoá việc bố trí các nguồn lực cho công tác này. Bên cạnh đó, cần coi trọng và phát huy có hiệu quả khả năng xúc tiến đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tiếp tục hoàn chỉnh pháp luật và chính sách về công tác xúc tiến đầu tư theo hướng tăng cường sự quản lý của nhà nước và cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương, cũng như giữa các địa phương với nhau.
Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư, trong đó chú trọng chính sách riêng đối với từng tập đoàn và mỗi nước thành viên EU, Hoa Kỳ. Tăng cường các đoàn vận động đầu tư theo phương thức làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn, tại các địa bàn trọng điểm (Mỹ, Nhật Bản, EU…), để kêu gọi đầu tư các dự án lớn, quan trọng. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ trong điều kiện có thể, đối với các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam. Trong xu thế phát triển mới, nhất là khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký Hiệp định Đầu tư (BIT), việc Hoa Kỳ trở thành nhà đầu tư số 1 chỉ còn là vấn đề thời gian. Trong tương lai gần, việc các TNC Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam thông qua các dự án lớn, sẽ trở thành lực hút các nhà đầu tư lớn từ các nền kinh tế mạnh khác đến Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam cần phải đổi mới, nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư (XTĐT). Trước hết, cần sớm thực hiện mở 9 cơ quan XTĐT tại các địa bàn trọng điểm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore, Arập Xêút, Quatar và Đài Loan. Cơ quan này có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động XTĐT tại địa bàn đã được xác định, như điều tra nghiên cứu; thẩm định năng lực đối tác; nghiên cứu phát hiện xu hướng vận động của các luồng vốn ĐTNN để đề xuất các giải pháp thích hợp; hỗ trợ các nhà ĐTNN mới vào hoặc đang hoạt động tại Việt Nam.
Để củng cố lòng tin cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài, cần tiếp tục hoàn thiện luật pháp về kiểm toán, kế toán và thống kê để có hệ thống thông tin chính xác, minh bạch. Việt Nam đã có hai văn bản pháp quy về quy định trách nhiệm công bố thông tin là Luật Thống kê và Luật Kế toán (theo dự kiến hai luật này sẽ được gộp lại thành Luật Kế toán – thống kê). Như vậy, trên giác độ pháp lý nhìn chung cả hai bộ luật trên đều quy định nghĩa vụ, hình thức, nội dung công bố, công khai thông tin đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp, trong đó có các công ty cổ phần và công ty cổ phần là công ty đại chúng. “Luật chứng khoán” cũng đã có quy định rất rõ nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng – đây là văn bản pháp quy cao nhất, quan trọng nhất để nâng cao tính minh bạch của công ty đại chúng.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý các văn bản dưới luật, xây dựng chế độ công bố thông tin.
Để có thể điều tiết tốt sự di chuyển của dòng vốn đầu tư nước ngoài, hệ thống thu thập dữ liệu thông tin cần được nâng cấp. Các thông tin cần được thu thập hàng tuần thậm chí hàng ngày là những thông tin về sự di chuyển của dòng vốn FPI, dưới dạng tiền gửi ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, chứng khoán Chính phủ cũng như khối lượng trái phiếu và cổ phiếu hàng ngày trên thị trường chứng khoán. Những dạng thông tin hữu ích để xác định bản chất của dòng vốn là thông tin từ ngân hàng Trung ương từ hệ thống ngân hàng thương mại, từ cơ quan điều tiết chứng khoán và thị trường chứng khoán, từ các thể chế tài chính phi ngân hàng…
Hệ thống thu thập thông tin có nhiệm vụ: xác định và đánh giá thông tin về sự di chuyển vốn, xác định những dạng thông tin cần được xử lý kịp thời, lựa chọn những thông tin cần thiết cho việc phân tích chính sách.
Để cải tiến việc thu thập thông tin cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan tiền tệ, các thể chế điều tiết và các cơ quan quản lý TTCK; việc thu thập thông tin còn được thực hiện thông qua tư vấn, hợp tác trao đổi thông tin giữa các nước trong cùng khu vực và với các tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF, WB).
Một TTCK chỉ có thể tồn tại và phát triển được là nhờ vào một yếu tố quan trọng là lòng tin của các nhà đầu tư. Tính minh bạch đóng vai trò then chốt để tạo dựng lòng tin của các nhà đầu tư qua đó góp phần phát triển TTCK. Tính minh bạch được xem xét với quan điểm là hành động công bố thông tin đầy đủ của công ty, đòi hỏi công ty không chỉ phơi bày sự thật, mà còn phải công bố chúng tới mọi cổ đông.
Các nhà đầu tư có quyền được thông tin đầy đủ và chính xác về kết quả hoạt động tài chính; các mục tiêu kinh doanh; các cổ đông lớn và quyền bầu cử của cổ đông; về giao dịch giữa các bên có liên quan, về các nhân tố rủi ro; những vấn đề liên quan đến người lao động và các cổ động; về cơ cấu và chính sách quản trị tại công ty và tiến trình thực hiện…
Công bố thông tin phải dựa trên nền tảng hệ thống kế toán, kiểm toán với các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế các phương tiện công bố thông tin thích hợp và hiệu quả nhất (như qua mạng Internet).
Để nhằm ổn định tâm lý và củng cố lòng tin cho các nhà đầu tư, Việt Nam cấp thiết xây dựng ngay Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm. Đây là công ty chuyên đưa ra các đánh giá về tình hình và triển vọng hoạt động của các công ty khác dưới dạng các hệ số tín nhiệm. Hệ số tín nhiệm được biểu hiện bằng ba chữ cái: A, B, C; trong đó cao nhất là AAA, thấp nhất là CCC. Các công ty có hệ số tín nhiệm gần với AAA như AAB hoặc ABB là các công ty hoạt động tốt; còn các công ty có hệ số tín nhiệm gần với CCC là các công ty hoạt động không tốt, độ an toàn thấp. Các nhà đầu tư có thể dựa vào các hệ số tín nhiệm của các công ty để cân nhắc, lựa chọn và đưa ra quyết định đầu tư của mình.
Để công tác xúc tiến đầu tư có hiệu quả cao, các cơ quan trực tiếp hoạt động xúc tiến đầu tư cần phối hợp với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao khi tham dự liên hoan và thi đấu quốc tế, qua đó quảng bá hình ảnh tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam nhằm h p dẫn và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
 
Tài liệu tham khảo
1. “20 năm đầu tư nước ngoài. Nhìn lại và hướng tới”, NXB Tri thức – 2008.
2. “Kỷ yếu 20 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – 2008.
3. “Đánh giá tác động của 5 năm triển khai Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đối với thương mại, đầu tư và cơ cấu kinh tế của Việt Nam”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – 2007
 Gửi emailIn thông tin
Comments